Thiền Sư Thích Thông Hội


Thiền Sư Thích Thông Hội

Thầy Thông Hội sanh trưởng ở Việt Nam, hiện đang ở Dallas, Texas, và là giáo thọ tại Thiền Viện Phổ Môn ở Houston, Texas, Hoa Kỳ.

Từ thuở thiếu thời, trước cảnh sinh ly, tử biệt của những người thân, Thầy nhận ra niềm vui không trọn vẹn, từ đó hình thành nỗi trăn trở, bức xúc trong Thầy cùng với sự băn khuăn, ray rức về kiếp người trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, là động cơ đưa Thầy dấn bước tìm con đường dứt khổ, giải thoát.

Thầy Thông Hội sanh năm 1949 tại Phan Thiết, Bình Thuận, Việt Nam, trong một gia đình mà cha và hầu hết anh chị em đều là nhà giáo. Ngay từ nhỏ, thầy đã thích nghiên cứu kinh, luận, nhất là sử về các vị Thiền sư. Thầy lớn dần và những trăn trở, thao thức về kiếp nhân sinh cũng lớn dần trong tâm thức, ngay từ năm đầu của ngưỡng cửa đại học, tâm cầu giải thoát chín muồi, thầy rời bỏ cha mẹ, anh chị em và bạn bè,... ra đi thực hiện hoài bảo của mình.

Ta từ tỉnh giấc mộng dài
Trót đem chí cả vượt ngoài tử sinh.

Visiting Teacher at Universal Door Meditation Center
Xuất gia tại Thiền viện Chơn Không, thuộc Núi Lớn, Vũng Tàu, năm 1973. Trong suốt thời gian ở Thiền viện, thầy tinh chuyên học hỏi, nghiên cứu sâu sắc giáo lý nơi Hòa thượng bổn sư và ứng dụng được lý kinh trong công phu tỉnh tọa cũng như áp dụng trong đời sống hàng ngày. Nhờ đó, thầy càng tin sâu con đường giải thoát, nhưng, nỗi khổ sinh tử vẫn luôn trĩu nặng trong lòng.

Thế rồi, năm 1975, hoàn cảnh đất nước đổi thay, thầy là một trong số những vị tăng trẻ, phải rời Thiền viện Chơn Không, về Thiền viện Thường Chiếu, Long Thành, ban ngày, cuốc đất trồng khoai, trồng đậu, cùng nhau cuốc xới, lao tác trên 50 mẫu cỏ tranh cao lút đầu, đầy rắn rít, bò cạp, nhưng lý tưởng giải thoát vẫn không giây phút nào quên. Sự trăn trở về nỗi khổ của kiếp người vẫn chưa giải quyết, dù nhận ra những phiền khổ có mặt là do những định kiến, những cố chấp của chính mình.

Năm 1979, thầy rời TV Thường Chiếu về Long Xuyên, miền tây, sống cùng những người bạn cùng ở TV Chơn Không ngày trước, trong khoảng thời gian này, những trăn trở, thao thức về nỗi khổ tử sinh càng lúc càng đeo bám. Một hôm, trong cơn bế tắt cùng tột này, thầy chợt nhận ra khuôn mặt thật của chính mình, và rõ ràng, sâu sắc hơn về hệ thống phiền khổ vận hành. Thầy cũng nhận ra, những sự học hỏi nơi sách vở, kinh điển chỉ có ích trong giai đoạn sơ cơ, nhưng nếu bám dính, điều này là trở ngại lớn trên đường giải thoát. Ngay buổi sáng kì diệu này, những lời thơ cứ trào ra ngọn bút... Tuy vậy, kiểm lại, dường như thầy vẫn thấy mình chưa hoàn toàn dứt khổ, giải thoát. Vẫn còn có trở ngại nào đó, trong lòng. Nhân một cơ duyên, thầy sang định cư trên đất Mỹ, dù hoàn cảnh mới lạ, bỡ ngỡ nhiều trong sinh hoạt mới mẻ của xứ người. Động cơ giải thoát vẫn không ngừng thôi thúc để cuối cùng, đang khi tương tác với ngoại cảnh, tâm thức máy động do cái tôi vận hành, câu hỏi lớn về nỗi khổ tử sinh chạm mạnh vào tận cùng tâm thức, trong khoảnh khắc ấy, thầy nhận rõ, do đâu mình khổ, mình thật sự là ai, cái tôi được hình thành và vận hành ra sao trong cuộc sống...

Từ đó, Thầy nguyện dành trọn thời giờ giúp người hiểu về sự vận hành khổ đau nơi chính mình và phát tâm tu học dứt khổ, giải thoát. Những gì Thầy hướng dẫn được áp dụng trong mọi hoàn cảnh, trong mọi sinh hoạt hằng ngày.